Bấm vào đây xem
Ngày
hội Open Day của Chú kiến nhỏ đã đón chào các bé tới khám phá.
👏👏👏👏👏👏👏👏👏👏
Chúng mình đã cùng nhau chơi nhiều trò chơi tại khu vận động thể chất, học nhiều bài học thật thú vị cùng thầy Anthony và các cô giáo rồi.
Mẫu giáo CHÚ KIẾN NHỎ (Little Ant Preschool)
📮 Tầng 2, Tòa nhà D-Eyes, 371 Nguyễn Kiệm, phường, quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh (sau chợ Tân Sơn Nhất, Đối diện chung cư Hà Đô Nguyễn Văn Công )
✉ littleant.preschool@gmail.com
📞 0934 889 688
Facebook: https://www.facebook.com/thelittleantpreschool/
Website: http://littleantpreschool.blogspot.com/
Xem thêm:
Giới thiệu tổng quan trường mẫu giáo Chú Kiến Nhỏ
Tuyển sinh năm học 2016-2017
Học phí của trường
Lớp ngoại khóa ENGLISH through ART
👏👏👏👏👏👏👏👏👏👏
Chúng mình đã cùng nhau chơi nhiều trò chơi tại khu vận động thể chất, học nhiều bài học thật thú vị cùng thầy Anthony và các cô giáo rồi.
Mẫu giáo CHÚ KIẾN NHỎ (Little Ant Preschool)
📮 Tầng 2, Tòa nhà D-Eyes, 371 Nguyễn Kiệm, phường, quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh (sau chợ Tân Sơn Nhất, Đối diện chung cư Hà Đô Nguyễn Văn Công )
✉ littleant.preschool@gmail.com
📞 0934 889 688
Facebook: https://www.facebook.com/thelittleantpreschool/
Website: http://littleantpreschool.blogspot.com/
Xem thêm:
Giới thiệu tổng quan trường mẫu giáo Chú Kiến Nhỏ
Tuyển sinh năm học 2016-2017
Học phí của trường
Lớp ngoại khóa ENGLISH through ART








|
VINHOMES SKY
LAKE
“ Xanh dương
- Sắc màu của không gian sống mới”
Dự án chung cư Vinhomes Sky Lake
phạm hùng là dự án thành phố xanh giữa lòng Thủ Đô Hà Nội, được dành một khoảng
diện tích lớn cho các không gian cảnh quan, tạo một không gian thân thiện, gần
gũi với thiên nhiên nhằm mục đích nâng cao sức khỏe cư dân. Vinhomes Sky Lake
nằm tại ngã ba Phạm Hùng - Dương Đình Nghệ, đối diện với KeangNam và Sudico,
mảnh đất vàng hiếm hoi còn sót lại tại Quận Cầu Giấy. Khu đô thị sẽ là nơi cho
các Doanh Nhân thành đạt và tầng lớp tri thức cao
trong xã hội khẳng định Đẳng Cấp cùng với môi trường sống cộng với tiện ích hoàn
ảo.
| |||
![]() | |||
|
TỔNG QUAN
|
TIỆN ÍCH
|
THIẾT KẾ
|
CHÍNH
SÁCH
|
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| - Vị Trí: Lô E1.3 Cầu Giấy, Phạm hùng, Nam Từ Liêm, Hà Nội. - Chủ đầu tư: Tập đoàn Vingroup, Công ty TNHH Phát Triển Công Viên Trung Tâm - Giá bán: 40 triệu/1m2 - Thời gian bàn giao: Quý II/2019 |
- Dự án Vinhomes SKy Lake
Phạm Hùng tọa lạc bên bờ hồ thơ mộng và công viên cây xanh rộng 32ha, nơi mà mỗi
ngày trôi qua như một kỳ nghỉ tại những khu Resort đắt giá nhất.
|
- Thiết kế tòa S1 - Thiết kế tòa S2 - Thiết kế tòa S3 | - Hỗ trợ vay tới 65% lãi suất =0% - Ân hạn nợ gốc trong 24 tháng - Chiết khấu tới 12% |
|
LIÊN HỆ PHÒNG DỰ ÁN CHỦ
ĐẦU TƯ
Địa
chỉ: Tầng 2 Vinhomes Phạm
Hùng - số 8 phố Phạm Hùng, Hà Nội.
Email: phongduan.skylake@gmail.com
Website: http://vinhomesskylake.wixsite.com/home
http://www.vingroup-vinhomes.com
Hotline: 0989 28
64 99
| |||
|
VINHOMES D’.CAPITALE
“VỊ TRÍ KIM CƯƠNG, TINH
HOA HỘI TỤ”
Vinhomes
Trần Duy Hưng tọa lạc tại vị trí đắc địa bậc nhất Hà Nội, mảnh đất “Vàng” với 2
mặt tiền đường lớn là Trần Duy Hưng và Phạm Hùng- nút giao thông trọng điểm của
Hà Nội. Nơi đây cũng là khu vực sầm uất bậc nhất thủ đô, nơi cơ sở hạ tầng kinh
tế đã hoàn thiện, trung tâm ngoại giao và giáo dục của toàn thành phố, dự án nằm
trong quy hoạch chiến lược cửa ngõ Tây Nam về kinh tế, văn hóa, hành chính; đem
lại cho dự án một vị thế nổi bật.
| |||
![]() | |||
|
TỔNG QUAN
|
TIỆN ÍCH
|
THIẾT KẾ
|
CHÍNH
SÁCH
|
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| - Vị Trí: Trần Duy Hưng Hà Nội - Chủ đầu tư: Tân Hoàng Minh, Vinhomes - Giá bán: 40 triệu/1m2 - Thời gian bàn giao: Quý IV/2018 |
Hệ thống tiện ích nổi bật
tại D’. Capitale đáp ứng tiêu chuẩn 5 sao xứng tầm đẳng cấp với một biểu tượng
của cuộc sống trong tương lai. Tại chung cư D’. Capitale
|
- Thiết kế tòa C1 - Thiết kế tòa C2 - Thiết kế tòa C3 - Thiết kế tòa C6 | - Hỗ trợ vay tới 65% lãi suất =0% - Ân hạn nợ gốc trong 24 tháng - Chiết khấu tới 12% |
|
LIÊN HỆ PHÒNG DỰ ÁN CHỦ
ĐẦU TƯ
Địa chỉ: VIETSTARLAND
- Tầng 2 Vinhomes Phạm
Hùng - số 8 phố Phạm Hùng, Hà Nội.
Email: phongduan.skylake@gmail.com
Website: http://vinhomestranduyhung.wixsite.com/home
http://www.vingroup-vinhomes.com
Hotline: 0989 28
64 99
| |||
GIỚI
THIỆU TRANG HƯỚNG DẪN HỌC TẬP MÔN LỊCH SỬ THCS
Quí vị và các bạn thân mến!
Trang Blogspot nhằm mục đích chia sẽ những tài nguyên phục vụ việc học tập môn Lịch sử trong tầm hiểu biết hạn hẹp của tôi.
Mọi liên hệ và đóng góp vui lòng gửi email tới : truongquockinm@gmail.com
KIM TRƯƠNG
CHÂN THÀNH CẢM ƠN QUÍ VỊ
Quí vị và các bạn thân mến!
Trang Blogspot nhằm mục đích chia sẽ những tài nguyên phục vụ việc học tập môn Lịch sử trong tầm hiểu biết hạn hẹp của tôi.
Mọi liên hệ và đóng góp vui lòng gửi email tới : truongquockinm@gmail.com
KIM TRƯƠNG
CHÂN THÀNH CẢM ƠN QUÍ VỊ
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Thông tin là gì? Ví dụ?
2. Nêu các bước hoạt động thông tin của con
người?
3. Nêu các bước hoạt động thông tin của tin
học?
4. Biểu diễn thông tin là? Lấy ví dụ và phân
tích?
5. Nêu các thành phần chính của máy tính và chức năng của
thành phần đó?
6. Phân loại máy tính về mặt chức năng gồm mấy phần, chức
năng của các phần đó?
7. Phần mềm để luyện tập chuột là phần mềm nào? Nêu các
mức luyện tập chuột?
8. Phần mềm để học gõ mười ngón? Nêu các mức luyện tập gõ
mười ngón?
9. Nêu các lệnh phím tắt mà em biết và chức
năng?
10. Phần mềm là gì? Phân loại phần mềm và lấy ví
dụ?
Các em soạn đề cương ôn tập, có câu hỏi nào thắc mắc có
thể trao đồi với bạn hoặc với thầy!
email: thongitdhv@gmail.com - 0989473535
Chúc các em làm bài tốt!

Câu
2. Thông tin được lưu dưới dạng bảng có ưu điểm
gì:
A. Tính toán nhanh chóng
B. Dễ
sắp xếp, Dễ theo dõi, tính toán nhanh chóng
C. Dễ sắp xếp
D. Dễ theo dõi, tính toán nhanh
chóng
Câu
3. Để lưu trang tính ta chọn
lệnh:
A. File\Exit B. File\Save
C. File\Open
D. File\New
Câu
4. Khi bảng tính đã đựợc lưu ít nhất một lần ( đã có
tên) ta muốn lưu với tên khác
thì:
A. File\Save
as
B. File\Open
C. File\ Save
D. File\exit
Câu
8. Giả sử cần tính tổng các giá trị trong các ô C2 và
D4, sau đó nhân với giá trị trong ô B2. Công thức nào sau đây là
đúng?
A.=(C2+D4)B2 B. =(C2+D4)*B2
C. (C2+D4)*B2
D. = C2+D4*
B2
Câu
9. Tính tổng giá trị trong các ô C2:F2 em
sử dụng công thức
nào
A. =average(C2:F2)
B. =min(C2:F2)
C. =max(C2:F2) D. =sum(C2:F2)
Câu
10. Thanh công thức dùng
để:
A.Tất
cả các ý đều đúng
B. Hiển thị nội
dung ô tính được chọn
C. Hiển thị công thức trong ô tính được
chọn
D. Nhập dữ liệu cho ô tính được
chọn
Câu
11. Để tính giá trị lớn nhất ta sử dụng
hàm:
A. AVERAGE
B. MIN
C. SUM D. MAX
Câu
12. Câu nào sau đây
sai:
A.Trên
trang tính chỉ chọn được một khối duy nhất
B. Miền giao nhau giữa cột và dòng là ô tính dùng để
chứa dữ liệu
C. Địa chỉ ô tính là cặp địa chỉ tên cột và tên
hàng
D. Miền làm việc chính của bảng tính gồm các cột và các
dòng
Câu
13. Cho biết kết quả của hàm
=Average(4,10,16)?
A.10
B. 16
C. 30
D. 4
Câu
14. Địa chỉ ô B3 nằm ở
:
A. Dòng B, Dòng 3
B. Dòng B, cột 3 C. Cột
B, dòng 3
D. Cột B, cột
3
Câu
15. Loại dữ liệu nào sau đây được căn lề
trái trong ô
tính?
A. Dữ liệu kiểu ngày
tháng B. Dữ liệu kí tự
C. Dữ liệu số D. Dữ liệu hàm
C. Dữ liệu số D. Dữ liệu hàm
Câu
16. Để thoát khỏi màn hình EXCEL ta chọn cách nào
đây?
A. File/Exit
B. File/Open
C. File/Print
D. File/Save
Câu
17. Trong các phần mềm có tên sau, phần mềm nào là phần
mềm bảng tính
A. MicroSoft Power Point
B. MicroSoft Access
C. MicroSoft Word D. MicroSoft
Excel
Câu
18. Trong các công thức sau công thức
nào viết
đúng
A. =Sum(A1;A2;A3;A4)
B. =sum(A1;A4)
C. =SUM(A1,A2,A3,A4)
D. =Sum(A1-A4)
Câu
19. Để sao chép nội dung ô tính ta sử dụng
nút lệnh nào sau
đây?
A.
(new)
B.
(cut)
C.
(paste D.
(copy)
Câu
20. Hộp tên cho biết thông
tin:
A. Không có ý nào đúng
B. Tên
của cột
C. Tên của hàng D. Địa chỉ ô tính được chọn
C. Tên của hàng D. Địa chỉ ô tính được chọn
Câu
21. Trong ô tính xuất hiện ######
vì:
A. Tính toán ra kết quả sai
B. Công thức nhập sai
C.Độ
rộng của hàng quá nhỏ không hiển thị hết dãy số quá dài
D. Độ
rộng của cột quá nhỏ không hiển thị hết dãy số quá
dài
Câu
22. Để tính tổng giá trị trong các ô E3 và
F7, sau đó nhân với 10% ta thực hiện bằng công thức nào sau
đây?
A. = (E3 + F7) * 10%
B. =E3 + (F7 *
10%)
C. E3 + F7 *
10%
D. (E3 + F7) *
10%
Câu
23. Khối là tập hợp các ô kề nhau tạo thành hình chữ
nhật. Địa chỉ khối được thể hiện như câu nào sau đây là
đúng:
A. H1 - H5
B. H1->H5 C. H1:H5
D. H1…H5
Câu
24. Các thành phần chính trên trang tính
bao gồm?
A. Hộp tên,
khối
B. Các hàng, các cột, các ô tính
C. Thanh công
thức
D. Tất cả các ý đều
đúng
Câu
25. Trong các công thức tính trung bình cộng, công thức
nào viết
sai
A. =
Average(A1:A5)/5
B. =(A1+A2+A3+A4)/5
C. =Average(A1:A5)
D. =sum(A1:A5)/5
Câu
26. Để thêm cột trên trang tính ta thực
hiện như
sau:
A. Table /
Columns
B. Table /
Rows C. Insert / Columns
D. Insert /
Rows
Câu
27. Cho hàm =Sum(A5:A10) để thực
hiện?
A. Tìm giá trị lớn nhất từ ô A5 đến ô
A10
B. Tìm giá trị lớn nhất của ô A5 và ô A10
C. Tính
tổng từ ô A5 đến ô A10
D. Tính tổng của ô A5 và ô
A10
Câu
28. Câu thức nào viết
sai:
A. =sum(A1:A4)
B. =SUM(A1:A4)
C. = sum(A1:A4) D. =sum
(A1:A4)
Câu
29. Muốn nhập công thức vào bảng tính, cách nhập nào là
đúng?
A. 152 + 4 :
2
B. = 152+ 4 : 2
C. 15^2+4/2
D. =
15^2 + 4/2
Câu
30. Để sửa dữ liệu
ta:
A. Nháy
đúp chuột trái vào ô cần sửa
B. Nháy nút chuột trái
C. Nháy đúp chuột phải vào ô cần
sửa
D. Nháy nút chuột
phải
Câu
31. Công thức nào sau đây là đúng
?
A. =sum(A3.B3.C3)
B. =sum
(A3,B3,C3)
C. =sum(A3,B3;C3) D. =sum(A3:C3)
Câu
32. Phần mềm Typing
Test dùng
để:
A.Luyện
gõ phím nhanh bằng 10 ngón tay
B. Học địa lý thế giới
C. Học toán học
D. Học vẽ hình
hình học động


Nhóm học trò của Thầy Chung ( học ở SG sau 75) làm thơ
nhân lễ chung thất
Nhớ
Thầy (
49 ngày )

Hôm nay tháng bảy ba mươi.,
Bầy chim trường Thạnh
bay về nơi đây.
Chúng con thắp nén
hương lòng,
Mong Thầy sớm được về
nơi vĩnh hằng.
Tìm được Thầy, quá muộn màng,
Nhưng rồi vẫn kịp, Thầy, trò , bên
nhau.
Nắm tay Thầy, con nghẹn ngào,
Bánh xe Tạo hóa có chừa ai đâu!
Nay Thầy cất bước qui tiên,
Chúng con ở lại nhớ thương vô vàn.
Tiễn Thầy bao nén hương lòng,
Chúng con nguyện sống vang danh như Thầy!
Nhóm học trò
của Thầy Chung ( học ở SG sau 75)
GÓP
LỜI THÀNH KÍNH AI ĐIẾU
THẦY
NGUYỄN ĐÌNH CHUNG
PHÂN
ƯU CÙNG GIA ĐINH VÀ
NGUYỆN
CẦU HƯƠNG LINH
VÃNG
SINH TỊNH ĐỘ
KÍNH
THẦY DẠY TOÁN NGUYỄN DU XƯA
CHÚM
CHÍM MÔI SON TAY PHẤN ĐƯA
DUYÊN
DÁNG DỊU DÀNG HỆ LUẬN GIẢNG
THÂM
TRẦM SẮC SẢO CHỨNG MINH THƯA
VIÊN
PHÂN HÚ HỌA HÌNH KHÔNG RỖNG
LĂNG
TRỤ NHẮC GHI ĐÁY CHẲNG THỪA
MÃI MÃI
LỜI NGƯỜI IN TRÍ TUỆ
CÔNG ƠN
BIẾT MẤY KỂ CHO VỪA
NHA
TRANG,11.08.2016
HỌC TRÒ
CŨ ĐỆ TỨ (NH 1964-1965)
VÕ SĨ
QUÝ
Cấp cứu tim mạch số 93 – BS Nguyễn Văn Thịnh
Posted
on 06.08.2016by tiengsonghuong
BỆNH
MÀNG NGOÀI TIM
(PERICARDIAL
DISEASE)
Ashish
Aneja, MBBS, MD
Department
of General Internal Medicine
Section
of Hospital Medicine
Cleveland
Clinic, Ohio
1/
VIÊM MÀNG NGOÀI TIM CẤP TÍNH LÀ GÌ ? NHỮNG NGUYÊN NHÂN THÔNG THƯỜNG
?
Tim được bao quanh bởi những lớp mô sợi tạng và thành
được gọi là màng ngoài tim (pericardium), khi bị viêm có thể dẫn đến viêm màng
ngoài tim cấp tính (acute paricarditis). Viêm có thể là kết quả của những nguyên
nhân tại chỗ hay toàn thân, được liệt kê ở bảng 1. Tỷ lệ viêm màng ngoài tim
trong những công trình nghiên cứu sau chết thay đổi từ 1% đến 6%. Nó chỉ được
chẩn đoán trước khi chết ở 0,1% những bệnh nhân nhập viện. Tỷ lệ là 5% ở những
bệnh nhân đến phòng cấp cứu với đau ngực không có nhồi máu cơ tim.
NHỮNG NGUYÊN NHÂN CỦA VIÊM MÀNG NGOÀI
TIM CẤP TÍNH
2/
VIÊM MÀNG NGOÀI TIM CẤP TÍNH BIỂU HIỆN NHƯ THẾ NÀO ?
Viêm màng ngoài tim cấp tính được đặc trưng bởi đau ngực
(chest discomfort), trở nặng khi nằm xuống, lan ra sau lưng hay đỉnh cơ thang
(trapezius ridge) và thường lan ra cánh tay và cổ ; một tiếng cọ màng ngoài tim
(pericardial rub), những thay đổi đặc trưng của điện tâm đồ ; và đôi khi sốt.
Dấu hiệu lâm sàng đặc hiệu của viêm màng ngoài tim, tiếng cọ màng ngoài tim,
thường phù du và có cường độ thay đổi. Đó là một tiếng cọ (a scratchy sound),
được nghe rõ nhất ở phần dưới của bờ trái của xương ức khi bệnh nhân nghiêng
mình về phía trước trong khi thở ra, sử dụng diaphragm của ống nghe. Trong
trường hợp điển hình tiếng cọ màng ngoài tim gồm 3 giai đoạn (50% các bệnh
nhân), tương ứng với thu tâm nhĩ, thu tâm thất, và trương tâm thất
sớm.
3/
NHỮNG CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT CỦA VIÊM MÀNG NGOÀI TIM CẤP TÍNH ?
Tách thành động mạch chủ, nghẽn tắc động mạch phổi, tràn
khí màng phổi, hay nhồi máu cơ tim cấp tính có thể giống hệt viêm màng ngoài
tim. Hội chứng lâm sàng của viêm màng ngoài tim cấp tính thường được đặc trưng
bởi sự hiện diện của đau ngực và sự tăng cao nhẹ của nồng độ troponin (được thấy
trong 35 đến 65% các bệnh nhân) và của créatinine kinase MB. Những tình trạng
lâm sàng này thường có thể được phân biệt với viêm màng ngoài tim cấp tính bằng
bệnh sử hay thăm khám vật lý. Điện tâm đồ, siêu âm tim, chụp cắt lớp vi tính,
chụp cộng hưởng từ hay chụp X quang ngực.
4/
MÔ TẢ NHỮNG DẤU HIỆU ĐIỆN TÂM ĐỒ CỔ ĐIỂN CỦA VIÊM MÀNG NGOÀI TIM CẤP
TÍNH.
Những thay đổi điện tâm đồ của viêm màng ngoài tim cấp
tính tiến triển qua 4 giai đoạn. Những chuyển đạo I, II, III, aVL, aVF, V3-V6
thường được gọi là epicardial leads, và những chuyển đạo avR, V1, và V2 được gọi
là endocardial leads.
Giai đoạn 1 của viêm màng ngoài tim cấp tính : được đặc
trưng bởi đoạn ST chênh lên, những sóng T thẳng đứng, và những đoạn PR chênh
xuống trên những epicardial leads. Những endocardial leads cho thấy đoạn ST
chênh xuống, sóng T ngược, và đoạn PR chênh lên.
Giai đoạn 2 : Đoạn PR vẫn chênh xuống, những sóng T dẹt
dần và đảo ngược, và những đoạn ST đẳng điện trong những epicardial leads.
Giai đoạn 3 : Những đoạn PR và ST đẳng điện và những sóng
T hoàn toàn đảo ngược trong epicardial leads.
Giai đoạn 4 : Những dấu hiệu trở lại bình thường ở cả
những chuyển đạo epicardial lẫn endocardial.
Những
thay đổi này tiến triển trong nhiều ngày đến nhiều tuần, một quá trình chậm hơn
nhiều so với quá trình được quan sát trong STEMI. Những đoạn ST chênh lên trong
viêm màng ngoài tim cấp tính được đặc trưng bởi một sự chênh lên của điểm J,
được xác định như là chỗ nối của phức hợp QRS và đoạn ST và lõm hướng lên trên.
Với STEMI, những đoạn ST chênh lên thường có hình dạng lồi (dome-shaped) hơn là
lõm, và chúng khu trú ở những chuyển đạo kế cận nhau hơn là lan rộng. Trong
STEMI cấp tính, những sóng T đảo ngược xuất hiện trước khi những đoạn ST trở lại
đường cơ bản : sự chênh xuống của đoạn PR không thường gặp, và bloc nhĩ thất hay
loạn nhịp thất thường xảy ra hơn.
5/
NHỮNG ĐIỀU TRỊ BAN ĐẦU VÀ TIẾP THEO SAU CỦA VIÊM MÀNG NGOÀI TIM CẤP TÍNH
?
Bởi vì hầu hết những trường hợp viêm màng ngoài tim cấp
tính đều tự giới hạn, nên điều trị đầu tiên là NSAIDS. Ibuprofen (1600-3200 mg
được chia thành nhiều liều trong 24 giờ) hay indomethacin (75-225mg chia thành
nhiều liều trong 24 giờ) là những thuốc chính, nhưng aspirin (2-4 g chia thành
nhiều liều trong 24 giờ) có thể được ưa thích hơn ở những bệnh nhân với viêm
màng ngoài tim được liên kết với một nhồi máu cơ tim cấp tính. Indomethacin nên
tránh ở những bệnh nhân với nhồi máu cơ tim cấp tính bởi vì khả năng giảm lưu
lượng mạch vành. Những bệnh nhân đáp ứng với NSAID trong thời gian vài ngày.
Những bệnh nhân với những triệu chứng dai dẳng sau 2 tuần điều trị có thể được
cho một thuốc thay thế NSAID, colchicine, hay một phối hợp cả hai. Những bệnh
nhân không đáp ứng với NSAID và colchicine dùng phối hợp hay những bệnh nhân với
viêm màng ngoài tim nặng nguồn gốc tự miễn dịch có thể được cho prednisone với
liều 1-1,5 mg/kg/ngày với một sự giảm dần trong 3-4 tuần. Điều trị với
glucocorticoids nên được dành cho những bệnh nhân không đáp ứng với điều trị
phối hợp, bởi vì vài công trình nghiên cứu gợi ý rằng sự sử dụng sớm những loại
thuốc này có thể làm gia tăng nguy cơ tái phát. Pericardiocentesis, một thủ
thuật xâm nhập hút qua da dịch màng ngoài tim, không được khuyến nghị một cách
thường quy, mặc dầu nó nên được thực hiện khi có bất ổn định huyết động, nghi
viêm màng ngoài tim mưng mủ hay lao, khi cần dịch vì mục đích chẩn
đoán.
6/
KHI NÀO MỘT BỆNH NHÂN VỚI VIÊM MÀNG NGOÀI TIM CẤP TÍNH NÊN ĐƯỢC NHẬP VIỆN
?
Hầu hết những trường hợp viêm màng ngoài tim biến mất
bằng điều trị với NSAID và không cần nhập viện. Không có những tiêu chuẩn để
nhập viện, nhưng những bệnh nhân với đau khó chữa, sốt cao, bằng cớ viêm cơ tim
và màng ngoài tim (myopéricarditis) (các men tim tăng cao), sự hiện diện của
tràn dịch màng ngoài tim lớn, tình trạng suy giảm miễn dịch, và những bệnh nhân
được báo cáo sử dụng mới đây những thuốc kháng đông, phải được xét để quan sát
và điều trị nội trú. Bệnh nhân có thể được cho xuất viện về nhà một khi đau đã
được kiểm soát thích đáng và tình trạng ổn định huyết động được đảm bảo.
Follow-up được đòi hỏi đối với những bệnh nhân với đau khó kiểm soát, tràn dịch
lớn, tình trạng suy giảm miễn dịch, nghi nguyên nhân tự miễn dịch, thường tái
phát hay khi có khó khăn chẩn đoán.
7/
VAI TRÒ CỦA HEPARIN TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM MÀNG NGOÀI TIM CẤP TÍNH
?
Sự sử dụng heparin tương đối bị chống chỉ định trong viêm
màng ngoài tim cấp tính vì nguy cơ xuất huyết màng ngoài tim và tamponade. Bởi
vì viêm màng ngoài tim cấp tính thường giống với nhồi máu cơ tim cấp tính và có
thể gây gia tăng nhẹ nồng độ troponin, nên viêm màng ngoài tim cần phải được
loại bỏ trước khi heparin được sử dụng trong những trường hợp nghi ngờ hội chứng
động mạch vành cấp tính. Ở những bệnh nhân uremic với tiếng cọ màng ngoài tim,
thẩm tách không có heparin hay heparin liều thấp nên được xét đến.
8/
NHỮNG NGUYÊN NHÂN THÔNG THƯỜNG CỦA TRÀN DỊCH MÀNG NGOÀI TIM
?
Những nguyên nhân của tràn dịch màng ngoài tim
(pericardial effusion) cũng tương tự với những nguyên nhân dẫn đến viêm màng
ngoài tim cấp tính và gồm có viêm màng ngoài tim không rõ nguyên nhân
(idiopathic pericarditis), suy tim sung huyết, uremia, ung thư, giảm năng tuyến
giáp/phù niêm, hội chứng thận mỡ (nephrotic syndrome), xơ gan, thai nghén,
thuốc, và sau phẫu thuật tim (postcardiac surgery). Một chẩn đoán thường được
xác lập dựa trên bệnh sử và những kết quả xét nghiệm máu khác gồm cả kết quả của
những xét nghiệm huyết thanh (serologic tests). Hiếm khi cần lấy mẫu nghiệm dịch
màng ngoài tim bằng pericardiocentesis để xác lập chẩn đoán nhưng có thể được
thực hiện trong trường hợp nghi ngờ tamponade hay chẩn đoán khó nắm sau khi thực
hiện nhiều thử nghiệm không xâm nhập. Bảng dưới đây liệt kê vài phương thức chẩn
đoán được sử dụng trong chẩn đoán phân biệt của tràn dịch màng ngoài tim.
9/
NHỮNG DẤU HIỆU LÂM SÀNG Ở NHỮNG BỆNH NHÂN VỚI TRÀN DỊCH NG MÀNG NGOÀI
TIM ?
Phổ của những triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng tùy thuộc
vào thể tích và tính chất nhanh chóng của sự tụ dịch. Những tràn dịch phát triển
chậm, không đưa đến gia tăng áp lực xoang màng ngoài tim, thường không gây triệu
chứng. Những tràn dịch lớn có thể đè ép những cấu trúc trung thất và đưa đến khó
nuốt, khó thở, nôn, đầy bụng, và nấc cụt. Khám vật lý bình thường trong trường
hợp những tràn dịch nhỏ. Với những tràn dịch lớn, những tiếng tim bị mờ và dấu
hiệu Ewart (left infrascapular egophony/bronchial breathing và gõ đục do xẹp
phổi) đôi khi được ghi nhận. Với sự phát triển của tamponade, một sự gia tăng áp
lực tĩnh mạch cổ /toàn thân được ghi nhận …
10/
LÀM SAO CÓ THỂ PHÂN BIỆT TRÀN DỊCH MÀNG NGOÀI TIM VỚI CHÈN ÉP TIM
?
Những dấu hiệu cung lượng tim thấp thường là một báo hiệu
của tamponade và gồm có tình trạng lơ mơ, khó thở, mệt, tình trạng bất an, và
thiểu niệu. Với sự phát triển của tamponade, một sự gia tăng áp lực tĩnh mạch cổ
(jugular venous pressure) được ghi nhận. Ngoài tiếng cọ màng ngoài tim
(pericardial rub) và giảm tiếng tim, hạ huyết áp, tim nhịp nhanh, thở nhịp
nhanh, và một mạch nghịch lý (pulsus paradoxus) có thể phát triển. Nghịch lý
trong mạch nghịch lý (pulsus paradoxus) là sự hạ huyết áp thu tâm > 10 mmHg
với thở vào bình thường. Dấu hiệu mạch nghịch lý không đặc hiệu đối với
tamponade và có thể thấy với cơn bộc phát COPD nặng, hen phế quản cấp tính nặng,
nhồi máu thất phải, và nghẽn tắc động mạch phổi.
11/
NHỮNG DẤU HIỆU NÀO ĐƯỢC GHI NHẬN TRÊN SIÊU ÂM TIM Ở NHỮNG BỆNH NHÂN VỚI CHÈN ÉP
TIM ?
Siêu âm thường phát hiện tâm nhĩ phải bị xẹp trong thời
kỳ trương tâm. Right ventricular diastolic collapse thường có thể được chứng
minh ở những bệnh nhân với những nguyên nhân nội khoa của chèn ép tim.
12/
CHÈN ÉP TIM ĐƯỢC XỬ TRÍ NHƯ THẾ NÀO ?
Chèn ép tim (cardiac tamponade) là một cấp cứu nội khoa
và cần dẫn lưu cấp cứu dịch màng ngoài tim nếu có bất ổn định huyết động đáng
kể. Một cách lý tưởng, nhân viên có kinh nghiệm nên thực hiện dẫn lưu trong
catheterization laboratory dưới sự hướng dẫn của huỳnh quang. Dẫn lưu ngoại khoa
được chọn nếu tràn dịch có khả năng tái phát, hay nếu mô màng ngoài tim được đòi
hỏi vì mục đích cơ thể bệnh lý và vi trùng học.
13/
VIÊM MÀNG NGOÀI TIM CO THẮT LÀ GÌ ?
Viêm màng ngoài tim co thắt (constrictive pericarditis)
là một sự dày sợi của màng ngoài tim do viêm màng ngoài tim dai dẳng. Sinh lý
bệnh lý gồm có sự đổ đầy nhanh và sớm của tâm thất trong thời kỳ trương tâm với
một sự ngừng đột ngột do một n màng ngoài tim không co giãn (noncompliant
pericardium), dẫn đến những áp lực trương tâm tăng cao và bằng nhau ở tất cả các
buồng tim. Điều này gây nên gia tăng áp lực tĩnh mạch phổi và toàn hệ và những
dấu hiệu sung huyết tĩnh mạch toàn hệ. Viêm màng ngoài tim co thắt thường do
viêm màng ngoài tim cấp tính và không thể phòng ngừa mặc dầu điều trị ban đầu
thích đáng. Những nguyên nhân thông thường gồm có lao, phóng xạ, nhiễm trùng,
bệnh mô liên kết, và những quá trình ung thư.
NHỮNG ĐIỂM CHÍNH : BỆNH MÀNG NGOÀI TIM
1. Glucocorticoids có rất ít vai trò trong điều trị giai
đoạn sớm của viêm màng ngoài tim cấp tính.
2. Mạch nghịch lý gợi ý chèn ép tim (cardiac tamponade) ở
một bệnh nhân với tràn dịch màng ngoài tim.
3. Pericardiocentesis được chỉ định ở những bệnh nhân với
chèn ép tim có bằng cớ huyết động không ổn định.
4. Dấu hiệu Kussmaul và tiếng gõ màng ngoài tim
(pericardial knock) gợi ý chẩn đoán viêm màng ngoài tim co
thắt.
14/
NHỮNG DẤU HIỆU LÂM SÀNG NÀO ĐẶC THÙ CHO VIÊM MÀNG NGOÀI TIM CO THẮT
?
Những triệu chứng thường âm ỉ, và bệnh nhân dễ mệt
(fatigability), giảm khả năng gắng sức (poor exercise tolerance) và khó thở lúc
gắng sức. Giai đoạn tiến triển của bệnh có thể không phân biệt được về mặt lâm
sàng với xơ gan do sự hiện diện của cachexia, cổ trướng, gan to, lách to, và phù
chi dưới. Dấu hiệu Kussmaul (gia tăng nghịch lý áp lực tĩnh mạch cổ khi thở vào)
là nhạy cảm nhưng không đặc hiệu đối với viêm màng ngoài tim co thắt (đôi khi
hiện diện trong tamponade). Nhìn tĩnh mạch cổ có thể phát hiện một prominent Y
descent và thính chẩn tim thường nghe thấy một tiếng gõ màng ngoài tim
(pericardial knock), có âm sắc cao hơn và gần với tiếng tim S2 hơn là một S3.
Điện tâm đồ có thể cho thấy những sóng T điện thế thấp và dẹt. Rung nhĩ là loạn
nhịp nhĩ liên kết thường thấy nhất.
15/
ĐIỀU TRỊ VIÊM MÀNG NGOÀI TIM CO THẮT NHƯ THẾ NÀO ?
Viêm màng ngoài tim co thắt được điều trị bằng phẫu thuật
cắt bỏ màng ngoài tim bị co thắt. Mọi cố gắng phải được thực hiện để tháo hoàn
toàn mủ hay máu khỏi xoang màng ngoài tim để phòng ngừa sự co thắt tái phát
trong tương lai. Điều trị nội khoa với những thuốc lợi tiểu liều thấp có thể
được sử dụng để làm nhẹ những triệu chứng, những lợi tiểu quá mức là một nguy cơ
hằng định bởi vì sự co rút thể tích trong mạch máu thường xảy ra.
Glucocorticoids đã không được chứng tỏ có hiệu quả trong phòng ngừa sự co
thắt.
Reference : Hospital Medicine Secrets
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(23/7/2016)
BỆNH
MÀNG NGOÀI TIM
(PERICARDIAL DISEASE)
(PERICARDIAL DISEASE)
Ashish
Aneja, MBBS, MD
Department of General Internal Medicine
Section of Hospital Medicine
Cleveland Clinic, Ohio
Department of General Internal Medicine
Section of Hospital Medicine
Cleveland Clinic, Ohio
1/
VIÊM MÀNG NGOÀI TIM CẤP TÍNH LÀ GÌ ? NHỮNG NGUYÊN NHÂN THÔNG THƯỜNG
?
Tim được bao quanh bởi những lớp mô sợi tạng và thành được gọi là màng ngoài tim (pericardium), khi bị viêm có thể dẫn đến viêm màng ngoài tim cấp tính (acute paricarditis). Viêm có thể là kết quả của những nguyên nhân tại chỗ hay toàn thân, được liệt kê ở bảng 1. Tỷ lệ viêm màng ngoài tim trong những công trình nghiên cứu sau chết thay đổi từ 1% đến 6%. Nó chỉ được chẩn đoán trước khi chết ở 0,1% những bệnh nhân nhập viện. Tỷ lệ là 5% ở những bệnh nhân đến phòng cấp cứu với đau ngực không có nhồi máu cơ tim.
Tim được bao quanh bởi những lớp mô sợi tạng và thành được gọi là màng ngoài tim (pericardium), khi bị viêm có thể dẫn đến viêm màng ngoài tim cấp tính (acute paricarditis). Viêm có thể là kết quả của những nguyên nhân tại chỗ hay toàn thân, được liệt kê ở bảng 1. Tỷ lệ viêm màng ngoài tim trong những công trình nghiên cứu sau chết thay đổi từ 1% đến 6%. Nó chỉ được chẩn đoán trước khi chết ở 0,1% những bệnh nhân nhập viện. Tỷ lệ là 5% ở những bệnh nhân đến phòng cấp cứu với đau ngực không có nhồi máu cơ tim.
NHỮNG NGUYÊN NHÂN CỦA VIÊM MÀNG NGOÀI
TIM CẤP TÍNH

2/
VIÊM MÀNG NGOÀI TIM CẤP TÍNH BIỂU HIỆN NHƯ THẾ NÀO ?
Viêm màng ngoài tim cấp tính được đặc trưng bởi đau ngực (chest discomfort), trở nặng khi nằm xuống, lan ra sau lưng hay đỉnh cơ thang (trapezius ridge) và thường lan ra cánh tay và cổ ; một tiếng cọ màng ngoài tim (pericardial rub), những thay đổi đặc trưng của điện tâm đồ ; và đôi khi sốt. Dấu hiệu lâm sàng đặc hiệu của viêm màng ngoài tim, tiếng cọ màng ngoài tim, thường phù du và có cường độ thay đổi. Đó là một tiếng cọ (a scratchy sound), được nghe rõ nhất ở phần dưới của bờ trái của xương ức khi bệnh nhân nghiêng mình về phía trước trong khi thở ra, sử dụng diaphragm của ống nghe. Trong trường hợp điển hình tiếng cọ màng ngoài tim gồm 3 giai đoạn (50% các bệnh nhân), tương ứng với thu tâm nhĩ, thu tâm thất, và trương tâm thất sớm.
Viêm màng ngoài tim cấp tính được đặc trưng bởi đau ngực (chest discomfort), trở nặng khi nằm xuống, lan ra sau lưng hay đỉnh cơ thang (trapezius ridge) và thường lan ra cánh tay và cổ ; một tiếng cọ màng ngoài tim (pericardial rub), những thay đổi đặc trưng của điện tâm đồ ; và đôi khi sốt. Dấu hiệu lâm sàng đặc hiệu của viêm màng ngoài tim, tiếng cọ màng ngoài tim, thường phù du và có cường độ thay đổi. Đó là một tiếng cọ (a scratchy sound), được nghe rõ nhất ở phần dưới của bờ trái của xương ức khi bệnh nhân nghiêng mình về phía trước trong khi thở ra, sử dụng diaphragm của ống nghe. Trong trường hợp điển hình tiếng cọ màng ngoài tim gồm 3 giai đoạn (50% các bệnh nhân), tương ứng với thu tâm nhĩ, thu tâm thất, và trương tâm thất sớm.
3/
NHỮNG CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT CỦA VIÊM MÀNG NGOÀI TIM CẤP TÍNH ?
Tách thành động mạch chủ, nghẽn tắc động mạch phổi, tràn khí màng phổi, hay nhồi máu cơ tim cấp tính có thể giống hệt viêm màng ngoài tim. Hội chứng lâm sàng của viêm màng ngoài tim cấp tính thường được đặc trưng bởi sự hiện diện của đau ngực và sự tăng cao nhẹ của nồng độ troponin (được thấy trong 35 đến 65% các bệnh nhân) và của créatinine kinase MB. Những tình trạng lâm sàng này thường có thể được phân biệt với viêm màng ngoài tim cấp tính bằng bệnh sử hay thăm khám vật lý. Điện tâm đồ, siêu âm tim, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ hay chụp X quang ngực.
Tách thành động mạch chủ, nghẽn tắc động mạch phổi, tràn khí màng phổi, hay nhồi máu cơ tim cấp tính có thể giống hệt viêm màng ngoài tim. Hội chứng lâm sàng của viêm màng ngoài tim cấp tính thường được đặc trưng bởi sự hiện diện của đau ngực và sự tăng cao nhẹ của nồng độ troponin (được thấy trong 35 đến 65% các bệnh nhân) và của créatinine kinase MB. Những tình trạng lâm sàng này thường có thể được phân biệt với viêm màng ngoài tim cấp tính bằng bệnh sử hay thăm khám vật lý. Điện tâm đồ, siêu âm tim, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ hay chụp X quang ngực.
4/
MÔ TẢ NHỮNG DẤU HIỆU ĐIỆN TÂM ĐỒ CỔ ĐIỂN CỦA VIÊM MÀNG NGOÀI TIM CẤP
TÍNH.
Những thay đổi điện tâm đồ của viêm màng ngoài tim cấp tính tiến triển qua 4 giai đoạn. Những chuyển đạo I, II, III, aVL, aVF, V3-V6 thường được gọi là epicardial leads, và những chuyển đạo avR, V1, và V2 được gọi là endocardial leads.
Giai đoạn 1 của viêm màng ngoài tim cấp tính : được đặc trưng bởi đoạn ST chênh lên, những sóng T thẳng đứng, và những đoạn PR chênh xuống trên những epicardial leads. Những endocardial leads cho thấy đoạn ST chênh xuống, sóng T ngược, và đoạn PR chênh lên.
Giai đoạn 2 : Đoạn PR vẫn chênh xuống, những sóng T dẹt dần và đảo ngược, và những đoạn ST đẳng điện trong những epicardial leads.
Giai đoạn 3 : Những đoạn PR và ST đẳng điện và những sóng T hoàn toàn đảo ngược trong epicardial leads.
Giai đoạn 4 : Những dấu hiệu trở lại bình thường ở cả những chuyển đạo epicardial lẫn endocardial.
Những
thay đổi này tiến triển trong nhiều ngày đến nhiều tuần, một quá trình chậm hơn
nhiều so với quá trình được quan sát trong STEMI. Những đoạn ST chênh lên trong
viêm màng ngoài tim cấp tính được đặc trưng bởi một sự chênh lên của điểm J,
được xác định như là chỗ nối của phức hợp QRS và đoạn ST và lõm hướng lên trên.
Với STEMI, những đoạn ST chênh lên thường có hình dạng lồi (dome-shaped) hơn là
lõm, và chúng khu trú ở những chuyển đạo kế cận nhau hơn là lan rộng. Trong
STEMI cấp tính, những sóng T đảo ngược xuất hiện trước khi những đoạn ST trở lại
đường cơ bản : sự chênh xuống của đoạn PR không thường gặp, và bloc nhĩ thất hay
loạn nhịp thất thường xảy ra hơn.
Những thay đổi điện tâm đồ của viêm màng ngoài tim cấp tính tiến triển qua 4 giai đoạn. Những chuyển đạo I, II, III, aVL, aVF, V3-V6 thường được gọi là epicardial leads, và những chuyển đạo avR, V1, và V2 được gọi là endocardial leads.
Giai đoạn 1 của viêm màng ngoài tim cấp tính : được đặc trưng bởi đoạn ST chênh lên, những sóng T thẳng đứng, và những đoạn PR chênh xuống trên những epicardial leads. Những endocardial leads cho thấy đoạn ST chênh xuống, sóng T ngược, và đoạn PR chênh lên.
Giai đoạn 2 : Đoạn PR vẫn chênh xuống, những sóng T dẹt dần và đảo ngược, và những đoạn ST đẳng điện trong những epicardial leads.
Giai đoạn 3 : Những đoạn PR và ST đẳng điện và những sóng T hoàn toàn đảo ngược trong epicardial leads.
Giai đoạn 4 : Những dấu hiệu trở lại bình thường ở cả những chuyển đạo epicardial lẫn endocardial.
Những
thay đổi này tiến triển trong nhiều ngày đến nhiều tuần, một quá trình chậm hơn
nhiều so với quá trình được quan sát trong STEMI. Những đoạn ST chênh lên trong
viêm màng ngoài tim cấp tính được đặc trưng bởi một sự chênh lên của điểm J,
được xác định như là chỗ nối của phức hợp QRS và đoạn ST và lõm hướng lên trên.
Với STEMI, những đoạn ST chênh lên thường có hình dạng lồi (dome-shaped) hơn là
lõm, và chúng khu trú ở những chuyển đạo kế cận nhau hơn là lan rộng. Trong
STEMI cấp tính, những sóng T đảo ngược xuất hiện trước khi những đoạn ST trở lại
đường cơ bản : sự chênh xuống của đoạn PR không thường gặp, và bloc nhĩ thất hay
loạn nhịp thất thường xảy ra hơn.
5/
NHỮNG ĐIỀU TRỊ BAN ĐẦU VÀ TIẾP THEO SAU CỦA VIÊM MÀNG NGOÀI TIM CẤP TÍNH
?
Bởi vì hầu hết những trường hợp viêm màng ngoài tim cấp tính đều tự giới hạn, nên điều trị đầu tiên là NSAIDS. Ibuprofen (1600-3200 mg được chia thành nhiều liều trong 24 giờ) hay indomethacin (75-225mg chia thành nhiều liều trong 24 giờ) là những thuốc chính, nhưng aspirin (2-4 g chia thành nhiều liều trong 24 giờ) có thể được ưa thích hơn ở những bệnh nhân với viêm màng ngoài tim được liên kết với một nhồi máu cơ tim cấp tính. Indomethacin nên tránh ở những bệnh nhân với nhồi máu cơ tim cấp tính bởi vì khả năng giảm lưu lượng mạch vành. Những bệnh nhân đáp ứng với NSAID trong thời gian vài ngày. Những bệnh nhân với những triệu chứng dai dẳng sau 2 tuần điều trị có thể được cho một thuốc thay thế NSAID, colchicine, hay một phối hợp cả hai. Những bệnh nhân không đáp ứng với NSAID và colchicine dùng phối hợp hay những bệnh nhân với viêm màng ngoài tim nặng nguồn gốc tự miễn dịch có thể được cho prednisone với liều 1-1,5 mg/kg/ngày với một sự giảm dần trong 3-4 tuần. Điều trị với glucocorticoids nên được dành cho những bệnh nhân không đáp ứng với điều trị phối hợp, bởi vì vài công trình nghiên cứu gợi ý rằng sự sử dụng sớm những loại thuốc này có thể làm gia tăng nguy cơ tái phát. Pericardiocentesis, một thủ thuật xâm nhập hút qua da dịch màng ngoài tim, không được khuyến nghị một cách thường quy, mặc dầu nó nên được thực hiện khi có bất ổn định huyết động, nghi viêm màng ngoài tim mưng mủ hay lao, khi cần dịch vì mục đích chẩn đoán.
Bởi vì hầu hết những trường hợp viêm màng ngoài tim cấp tính đều tự giới hạn, nên điều trị đầu tiên là NSAIDS. Ibuprofen (1600-3200 mg được chia thành nhiều liều trong 24 giờ) hay indomethacin (75-225mg chia thành nhiều liều trong 24 giờ) là những thuốc chính, nhưng aspirin (2-4 g chia thành nhiều liều trong 24 giờ) có thể được ưa thích hơn ở những bệnh nhân với viêm màng ngoài tim được liên kết với một nhồi máu cơ tim cấp tính. Indomethacin nên tránh ở những bệnh nhân với nhồi máu cơ tim cấp tính bởi vì khả năng giảm lưu lượng mạch vành. Những bệnh nhân đáp ứng với NSAID trong thời gian vài ngày. Những bệnh nhân với những triệu chứng dai dẳng sau 2 tuần điều trị có thể được cho một thuốc thay thế NSAID, colchicine, hay một phối hợp cả hai. Những bệnh nhân không đáp ứng với NSAID và colchicine dùng phối hợp hay những bệnh nhân với viêm màng ngoài tim nặng nguồn gốc tự miễn dịch có thể được cho prednisone với liều 1-1,5 mg/kg/ngày với một sự giảm dần trong 3-4 tuần. Điều trị với glucocorticoids nên được dành cho những bệnh nhân không đáp ứng với điều trị phối hợp, bởi vì vài công trình nghiên cứu gợi ý rằng sự sử dụng sớm những loại thuốc này có thể làm gia tăng nguy cơ tái phát. Pericardiocentesis, một thủ thuật xâm nhập hút qua da dịch màng ngoài tim, không được khuyến nghị một cách thường quy, mặc dầu nó nên được thực hiện khi có bất ổn định huyết động, nghi viêm màng ngoài tim mưng mủ hay lao, khi cần dịch vì mục đích chẩn đoán.
6/
KHI NÀO MỘT BỆNH NHÂN VỚI VIÊM MÀNG NGOÀI TIM CẤP TÍNH NÊN ĐƯỢC NHẬP VIỆN
?
Hầu hết những trường hợp viêm màng ngoài tim biến mất bằng điều trị với NSAID và không cần nhập viện. Không có những tiêu chuẩn để nhập viện, nhưng những bệnh nhân với đau khó chữa, sốt cao, bằng cớ viêm cơ tim và màng ngoài tim (myopéricarditis) (các men tim tăng cao), sự hiện diện của tràn dịch màng ngoài tim lớn, tình trạng suy giảm miễn dịch, và những bệnh nhân được báo cáo sử dụng mới đây những thuốc kháng đông, phải được xét để quan sát và điều trị nội trú. Bệnh nhân có thể được cho xuất viện về nhà một khi đau đã được kiểm soát thích đáng và tình trạng ổn định huyết động được đảm bảo. Follow-up được đòi hỏi đối với những bệnh nhân với đau khó kiểm soát, tràn dịch lớn, tình trạng suy giảm miễn dịch, nghi nguyên nhân tự miễn dịch, thường tái phát hay khi có khó khăn chẩn đoán.
Hầu hết những trường hợp viêm màng ngoài tim biến mất bằng điều trị với NSAID và không cần nhập viện. Không có những tiêu chuẩn để nhập viện, nhưng những bệnh nhân với đau khó chữa, sốt cao, bằng cớ viêm cơ tim và màng ngoài tim (myopéricarditis) (các men tim tăng cao), sự hiện diện của tràn dịch màng ngoài tim lớn, tình trạng suy giảm miễn dịch, và những bệnh nhân được báo cáo sử dụng mới đây những thuốc kháng đông, phải được xét để quan sát và điều trị nội trú. Bệnh nhân có thể được cho xuất viện về nhà một khi đau đã được kiểm soát thích đáng và tình trạng ổn định huyết động được đảm bảo. Follow-up được đòi hỏi đối với những bệnh nhân với đau khó kiểm soát, tràn dịch lớn, tình trạng suy giảm miễn dịch, nghi nguyên nhân tự miễn dịch, thường tái phát hay khi có khó khăn chẩn đoán.
7/
VAI TRÒ CỦA HEPARIN TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM MÀNG NGOÀI TIM CẤP TÍNH
?
Sự sử dụng heparin tương đối bị chống chỉ định trong viêm màng ngoài tim cấp tính vì nguy cơ xuất huyết màng ngoài tim và tamponade. Bởi vì viêm màng ngoài tim cấp tính thường giống với nhồi máu cơ tim cấp tính và có thể gây gia tăng nhẹ nồng độ troponin, nên viêm màng ngoài tim cần phải được loại bỏ trước khi heparin được sử dụng trong những trường hợp nghi ngờ hội chứng động mạch vành cấp tính. Ở những bệnh nhân uremic với tiếng cọ màng ngoài tim, thẩm tách không có heparin hay heparin liều thấp nên được xét đến.
Sự sử dụng heparin tương đối bị chống chỉ định trong viêm màng ngoài tim cấp tính vì nguy cơ xuất huyết màng ngoài tim và tamponade. Bởi vì viêm màng ngoài tim cấp tính thường giống với nhồi máu cơ tim cấp tính và có thể gây gia tăng nhẹ nồng độ troponin, nên viêm màng ngoài tim cần phải được loại bỏ trước khi heparin được sử dụng trong những trường hợp nghi ngờ hội chứng động mạch vành cấp tính. Ở những bệnh nhân uremic với tiếng cọ màng ngoài tim, thẩm tách không có heparin hay heparin liều thấp nên được xét đến.
8/
NHỮNG NGUYÊN NHÂN THÔNG THƯỜNG CỦA TRÀN DỊCH MÀNG NGOÀI TIM
?
Những nguyên nhân của tràn dịch màng ngoài tim (pericardial effusion) cũng tương tự với những nguyên nhân dẫn đến viêm màng ngoài tim cấp tính và gồm có viêm màng ngoài tim không rõ nguyên nhân (idiopathic pericarditis), suy tim sung huyết, uremia, ung thư, giảm năng tuyến giáp/phù niêm, hội chứng thận mỡ (nephrotic syndrome), xơ gan, thai nghén, thuốc, và sau phẫu thuật tim (postcardiac surgery). Một chẩn đoán thường được xác lập dựa trên bệnh sử và những kết quả xét nghiệm máu khác gồm cả kết quả của những xét nghiệm huyết thanh (serologic tests). Hiếm khi cần lấy mẫu nghiệm dịch màng ngoài tim bằng pericardiocentesis để xác lập chẩn đoán nhưng có thể được thực hiện trong trường hợp nghi ngờ tamponade hay chẩn đoán khó nắm sau khi thực hiện nhiều thử nghiệm không xâm nhập. Bảng dưới đây liệt kê vài phương thức chẩn đoán được sử dụng trong chẩn đoán phân biệt của tràn dịch màng ngoài tim.
Những nguyên nhân của tràn dịch màng ngoài tim (pericardial effusion) cũng tương tự với những nguyên nhân dẫn đến viêm màng ngoài tim cấp tính và gồm có viêm màng ngoài tim không rõ nguyên nhân (idiopathic pericarditis), suy tim sung huyết, uremia, ung thư, giảm năng tuyến giáp/phù niêm, hội chứng thận mỡ (nephrotic syndrome), xơ gan, thai nghén, thuốc, và sau phẫu thuật tim (postcardiac surgery). Một chẩn đoán thường được xác lập dựa trên bệnh sử và những kết quả xét nghiệm máu khác gồm cả kết quả của những xét nghiệm huyết thanh (serologic tests). Hiếm khi cần lấy mẫu nghiệm dịch màng ngoài tim bằng pericardiocentesis để xác lập chẩn đoán nhưng có thể được thực hiện trong trường hợp nghi ngờ tamponade hay chẩn đoán khó nắm sau khi thực hiện nhiều thử nghiệm không xâm nhập. Bảng dưới đây liệt kê vài phương thức chẩn đoán được sử dụng trong chẩn đoán phân biệt của tràn dịch màng ngoài tim.

9/
NHỮNG DẤU HIỆU LÂM SÀNG Ở NHỮNG BỆNH NHÂN VỚI TRÀN DỊCH NG MÀNG NGOÀI
TIM ?
Phổ của những triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng tùy thuộc vào thể tích và tính chất nhanh chóng của sự tụ dịch. Những tràn dịch phát triển chậm, không đưa đến gia tăng áp lực xoang màng ngoài tim, thường không gây triệu chứng. Những tràn dịch lớn có thể đè ép những cấu trúc trung thất và đưa đến khó nuốt, khó thở, nôn, đầy bụng, và nấc cụt. Khám vật lý bình thường trong trường hợp những tràn dịch nhỏ. Với những tràn dịch lớn, những tiếng tim bị mờ và dấu hiệu Ewart (left infrascapular egophony/bronchial breathing và gõ đục do xẹp phổi) đôi khi được ghi nhận. Với sự phát triển của tamponade, một sự gia tăng áp lực tĩnh mạch cổ /toàn thân được ghi nhận …
Phổ của những triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng tùy thuộc vào thể tích và tính chất nhanh chóng của sự tụ dịch. Những tràn dịch phát triển chậm, không đưa đến gia tăng áp lực xoang màng ngoài tim, thường không gây triệu chứng. Những tràn dịch lớn có thể đè ép những cấu trúc trung thất và đưa đến khó nuốt, khó thở, nôn, đầy bụng, và nấc cụt. Khám vật lý bình thường trong trường hợp những tràn dịch nhỏ. Với những tràn dịch lớn, những tiếng tim bị mờ và dấu hiệu Ewart (left infrascapular egophony/bronchial breathing và gõ đục do xẹp phổi) đôi khi được ghi nhận. Với sự phát triển của tamponade, một sự gia tăng áp lực tĩnh mạch cổ /toàn thân được ghi nhận …
10/
LÀM SAO CÓ THỂ PHÂN BIỆT TRÀN DỊCH MÀNG NGOÀI TIM VỚI CHÈN ÉP TIM
?
Những dấu hiệu cung lượng tim thấp thường là một báo hiệu của tamponade và gồm có tình trạng lơ mơ, khó thở, mệt, tình trạng bất an, và thiểu niệu. Với sự phát triển của tamponade, một sự gia tăng áp lực tĩnh mạch cổ (jugular venous pressure) được ghi nhận. Ngoài tiếng cọ màng ngoài tim (pericardial rub) và giảm tiếng tim, hạ huyết áp, tim nhịp nhanh, thở nhịp nhanh, và một mạch nghịch lý (pulsus paradoxus) có thể phát triển. Nghịch lý trong mạch nghịch lý (pulsus paradoxus) là sự hạ huyết áp thu tâm > 10 mmHg với thở vào bình thường. Dấu hiệu mạch nghịch lý không đặc hiệu đối với tamponade và có thể thấy với cơn bộc phát COPD nặng, hen phế quản cấp tính nặng, nhồi máu thất phải, và nghẽn tắc động mạch phổi.
Những dấu hiệu cung lượng tim thấp thường là một báo hiệu của tamponade và gồm có tình trạng lơ mơ, khó thở, mệt, tình trạng bất an, và thiểu niệu. Với sự phát triển của tamponade, một sự gia tăng áp lực tĩnh mạch cổ (jugular venous pressure) được ghi nhận. Ngoài tiếng cọ màng ngoài tim (pericardial rub) và giảm tiếng tim, hạ huyết áp, tim nhịp nhanh, thở nhịp nhanh, và một mạch nghịch lý (pulsus paradoxus) có thể phát triển. Nghịch lý trong mạch nghịch lý (pulsus paradoxus) là sự hạ huyết áp thu tâm > 10 mmHg với thở vào bình thường. Dấu hiệu mạch nghịch lý không đặc hiệu đối với tamponade và có thể thấy với cơn bộc phát COPD nặng, hen phế quản cấp tính nặng, nhồi máu thất phải, và nghẽn tắc động mạch phổi.
11/
NHỮNG DẤU HIỆU NÀO ĐƯỢC GHI NHẬN TRÊN SIÊU ÂM TIM Ở NHỮNG BỆNH NHÂN VỚI CHÈN ÉP
TIM ?
Siêu âm thường phát hiện tâm nhĩ phải bị xẹp trong thời kỳ trương tâm. Right ventricular diastolic collapse thường có thể được chứng minh ở những bệnh nhân với những nguyên nhân nội khoa của chèn ép tim.
Siêu âm thường phát hiện tâm nhĩ phải bị xẹp trong thời kỳ trương tâm. Right ventricular diastolic collapse thường có thể được chứng minh ở những bệnh nhân với những nguyên nhân nội khoa của chèn ép tim.
12/
CHÈN ÉP TIM ĐƯỢC XỬ TRÍ NHƯ THẾ NÀO ?
Chèn ép tim (cardiac tamponade) là một cấp cứu nội khoa và cần dẫn lưu cấp cứu dịch màng ngoài tim nếu có bất ổn định huyết động đáng kể. Một cách lý tưởng, nhân viên có kinh nghiệm nên thực hiện dẫn lưu trong catheterization laboratory dưới sự hướng dẫn của huỳnh quang. Dẫn lưu ngoại khoa được chọn nếu tràn dịch có khả năng tái phát, hay nếu mô màng ngoài tim được đòi hỏi vì mục đích cơ thể bệnh lý và vi trùng học.
Chèn ép tim (cardiac tamponade) là một cấp cứu nội khoa và cần dẫn lưu cấp cứu dịch màng ngoài tim nếu có bất ổn định huyết động đáng kể. Một cách lý tưởng, nhân viên có kinh nghiệm nên thực hiện dẫn lưu trong catheterization laboratory dưới sự hướng dẫn của huỳnh quang. Dẫn lưu ngoại khoa được chọn nếu tràn dịch có khả năng tái phát, hay nếu mô màng ngoài tim được đòi hỏi vì mục đích cơ thể bệnh lý và vi trùng học.
13/
VIÊM MÀNG NGOÀI TIM CO THẮT LÀ GÌ ?
Viêm màng ngoài tim co thắt (constrictive pericarditis) là một sự dày sợi của màng ngoài tim do viêm màng ngoài tim dai dẳng. Sinh lý bệnh lý gồm có sự đổ đầy nhanh và sớm của tâm thất trong thời kỳ trương tâm với một sự ngừng đột ngột do một n màng ngoài tim không co giãn (noncompliant pericardium), dẫn đến những áp lực trương tâm tăng cao và bằng nhau ở tất cả các buồng tim. Điều này gây nên gia tăng áp lực tĩnh mạch phổi và toàn hệ và những dấu hiệu sung huyết tĩnh mạch toàn hệ. Viêm màng ngoài tim co thắt thường do viêm màng ngoài tim cấp tính và không thể phòng ngừa mặc dầu điều trị ban đầu thích đáng. Những nguyên nhân thông thường gồm có lao, phóng xạ, nhiễm trùng, bệnh mô liên kết, và những quá trình ung thư.
Viêm màng ngoài tim co thắt (constrictive pericarditis) là một sự dày sợi của màng ngoài tim do viêm màng ngoài tim dai dẳng. Sinh lý bệnh lý gồm có sự đổ đầy nhanh và sớm của tâm thất trong thời kỳ trương tâm với một sự ngừng đột ngột do một n màng ngoài tim không co giãn (noncompliant pericardium), dẫn đến những áp lực trương tâm tăng cao và bằng nhau ở tất cả các buồng tim. Điều này gây nên gia tăng áp lực tĩnh mạch phổi và toàn hệ và những dấu hiệu sung huyết tĩnh mạch toàn hệ. Viêm màng ngoài tim co thắt thường do viêm màng ngoài tim cấp tính và không thể phòng ngừa mặc dầu điều trị ban đầu thích đáng. Những nguyên nhân thông thường gồm có lao, phóng xạ, nhiễm trùng, bệnh mô liên kết, và những quá trình ung thư.
| NHỮNG ĐIỂM CHÍNH : BỆNH MÀNG NGOÀI TIM |
|
1. Glucocorticoids có rất ít vai trò trong điều trị giai
đoạn sớm của viêm màng ngoài tim cấp tính. 2. Mạch nghịch lý gợi ý chèn ép tim (cardiac tamponade) ở một bệnh nhân với tràn dịch màng ngoài tim. 3. Pericardiocentesis được chỉ định ở những bệnh nhân với chèn ép tim có bằng cớ huyết động không ổn định. 4. Dấu hiệu Kussmaul và tiếng gõ màng ngoài tim (pericardial knock) gợi ý chẩn đoán viêm màng ngoài tim co thắt. |
14/
NHỮNG DẤU HIỆU LÂM SÀNG NÀO ĐẶC THÙ CHO VIÊM MÀNG NGOÀI TIM CO THẮT
?
Những triệu chứng thường âm ỉ, và bệnh nhân dễ mệt (fatigability), giảm khả năng gắng sức (poor exercise tolerance) và khó thở lúc gắng sức. Giai đoạn tiến triển của bệnh có thể không phân biệt được về mặt lâm sàng với xơ gan do sự hiện diện của cachexia, cổ trướng, gan to, lách to, và phù chi dưới. Dấu hiệu Kussmaul (gia tăng nghịch lý áp lực tĩnh mạch cổ khi thở vào) là nhạy cảm nhưng không đặc hiệu đối với viêm màng ngoài tim co thắt (đôi khi hiện diện trong tamponade). Nhìn tĩnh mạch cổ có thể phát hiện một prominent Y descent và thính chẩn tim thường nghe thấy một tiếng gõ màng ngoài tim (pericardial knock), có âm sắc cao hơn và gần với tiếng tim S2 hơn là một S3. Điện tâm đồ có thể cho thấy những sóng T điện thế thấp và dẹt. Rung nhĩ là loạn nhịp nhĩ liên kết thường thấy nhất.
Những triệu chứng thường âm ỉ, và bệnh nhân dễ mệt (fatigability), giảm khả năng gắng sức (poor exercise tolerance) và khó thở lúc gắng sức. Giai đoạn tiến triển của bệnh có thể không phân biệt được về mặt lâm sàng với xơ gan do sự hiện diện của cachexia, cổ trướng, gan to, lách to, và phù chi dưới. Dấu hiệu Kussmaul (gia tăng nghịch lý áp lực tĩnh mạch cổ khi thở vào) là nhạy cảm nhưng không đặc hiệu đối với viêm màng ngoài tim co thắt (đôi khi hiện diện trong tamponade). Nhìn tĩnh mạch cổ có thể phát hiện một prominent Y descent và thính chẩn tim thường nghe thấy một tiếng gõ màng ngoài tim (pericardial knock), có âm sắc cao hơn và gần với tiếng tim S2 hơn là một S3. Điện tâm đồ có thể cho thấy những sóng T điện thế thấp và dẹt. Rung nhĩ là loạn nhịp nhĩ liên kết thường thấy nhất.
15/
ĐIỀU TRỊ VIÊM MÀNG NGOÀI TIM CO THẮT NHƯ THẾ NÀO ?
Viêm màng ngoài tim co thắt được điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ màng ngoài tim bị co thắt. Mọi cố gắng phải được thực hiện để tháo hoàn toàn mủ hay máu khỏi xoang màng ngoài tim để phòng ngừa sự co thắt tái phát trong tương lai. Điều trị nội khoa với những thuốc lợi tiểu liều thấp có thể được sử dụng để làm nhẹ những triệu chứng, những lợi tiểu quá mức là một nguy cơ hằng định bởi vì sự co rút thể tích trong mạch máu thường xảy ra. Glucocorticoids đã không được chứng tỏ có hiệu quả trong phòng ngừa sự co thắt.
Viêm màng ngoài tim co thắt được điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ màng ngoài tim bị co thắt. Mọi cố gắng phải được thực hiện để tháo hoàn toàn mủ hay máu khỏi xoang màng ngoài tim để phòng ngừa sự co thắt tái phát trong tương lai. Điều trị nội khoa với những thuốc lợi tiểu liều thấp có thể được sử dụng để làm nhẹ những triệu chứng, những lợi tiểu quá mức là một nguy cơ hằng định bởi vì sự co rút thể tích trong mạch máu thường xảy ra. Glucocorticoids đã không được chứng tỏ có hiệu quả trong phòng ngừa sự co thắt.
Reference : Hospital Medicine Secrets
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(23/7/2016)
(23/7/2016)









